ĐÔ THỊ NÉN Ở VIỆT NAM

Đô thị nén trên thế giới Năm 1987, Ủy ban Môi trường thế giới đưa ra khái niệm phát triển bền vững. Trong đô thị học, các chuyên gia nhận thấy hình thái đô thị nén, do hai nhà toán học Dantzig và Saaty đề xuất trước đó vào năm 1973 có tính bền vững hơn nhiều so với hình thái đô thị dàn trải.

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các nghiên cứu quốc tế chứng tỏ tính nén và sử dụng đất hỗn hợp rất có lợi cho sinh thái và môi trường. Cộng đồng Châu Âu công nhận đô thị nén là hình thái đô thị tốt nhất về giao thông và giúp bảo vệ đất canh tác vốn rất khan hiếm. Paris, Barcelona là những đô thị nén tốt hàng đầu thế giới, còn Hồng Kông và Singapore (H.1) ở Châu Á cũng là những đô thị nén nổi tiếng.

UN-Habitat đưa đô thị nén vào các hướng dẫn xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch đô thị. Năm 2000, LHQ đưa ra sáng kiến tổ chức diễn đàn về đô thị nén với tên gọi “UN Global Compact” hướng đến “Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ” (Millennium Development Goals/MDG), nay là “Mục tiêu Phát triển Bền vững” (Sustainable Development Goals/SDG). Các nước đông dân dù đã phát triển như Nhật Bản hay đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, và nhiều nước nhỏ khác trên thế giới đều nghiên cứu vận dụng hình thái đô thị nén. Tóm lại, đô thị nén đã trở thành định hướng toàn cầu cho đô thị hóa.

Khái niệm đô thị nén

Ba yếu tố chủ yếu của đô thị nén là mật độ dân số cao, giao thông cự ly ngắn và sử dụng đất hỗn hợp nhiều chức năng.

Mật độ đô thị có nhiều loại, như mật độ dân số, mật độ nhà ở, mật độ tư bản, mật độ việc làm… thường cao nhất tại khu trung tâm kinh doanh CBD rồi dãn dần ra biên. Mật độ dân số đô thị thường được phân biệt theo ba cấp: i) cấp đô thị; ii) cấp nội đô; và iii) cấp phường. Chẳng hạn đối với thành phố Mumbai (Ấn Độ), mật độ cấp đô thị năm 2011 là 253 người/ha, cấp nội đô là 450 người/ha và cấp phường “nén” nhất là 1.213 người/ha.Mật độ khu nhà ở được tính theo đơn vị ở/ha, mức “nén” là khoảng 120-500 đvơ/ha. Đơn vị ở tại Ấn Độ có thể chứa 5 người, nhưng tại New York bình quân chỉ là 1,7 người.

Cự ly giao thông trong đô thị nén thường khá ngắn, có thể đi bộ hay đi xe đạp, do đó giảm nhu cầu tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm không khí. Với cự ly xa hơn thì có giao thông công cộng. Đây chính là thực chất của phương thức phát triển theo định hướng giao thông công cộng TOD (Transit-Oriented Development) với các khu dân cư mật độ cao tập trung quanh trạm giao thông công cộng trong phạm vi 10-15 phút đi bộ (H.2). Ở Hồng Kông, các khu dân cư như vậy ngoài nhà ở còn có các loại cửa hàng, cửa hiệu, văn phòng và các tiện nghi khác, được gọi là “làng đô thị”. Điển hình thành công của làng đô thị là thành phố Stockholm: chính quyền thành phố từ rất sớm đã tập trung phát triển các khu phố hoàn chỉnh quanh các trạm của mạng đường sắt nhanh.

Phương thức sử dụng đất hỗn hợp nhiều chức năng như vừa nói trên và quy hoạch đô thị chiều thẳng đứng (Vertical Urbanism) là nhân tố then chốt để rút ngắn cự ly đi lại, dành ra nhiều không gian xanh và cho phép nâng cao “năng lực chuyên chở” (carrying capacity) của đất đai đô thị nén. Đường phố (streets) là điển hình của sử dụng đất hỗn hợp, đối nghịch với các tiểu khu nhà ở là nơi sử dụng đất đơn chức năng.

Thực tiễn chứng tỏ chính sách đô thị nén đem lại nhiều lợi ích giúp nâng cao tính bền vững của đô thị trên cả ba mặt môi trường, kinh tế và xã hội:

  1. Về môi trường:
  • Đi lại trong nội đô với cự ly ngắn ít phụ thuộc vào xe cơ giới nên giảm nhu cầu năng lượng và xả khí các bon;
  • Góp phần bảo vệ đất canh tác và đa dạng sinh học chung quanh đô thị;
  • Tạo điều kiện dễ dàng kết nối đô thị-nông thôn, giảm cự ly vận chuyển lương thực, thực phẩm.
  1. Về kinh tế:
  • Nâng cao hiệu quả đầu tư và giảm chi phí vận hành hệ thống hạ tầng, nhất là hạ tầng theo tuyến  như giao thông, truyền tải điện, cấp thoát nước...;
  • Cư dân dễ dàng tiếp cận các dịch vụ địa phương và việc làm;
  • Truyền bá thông tin và kiến thức dễ dàng, kích thích đổi mới công nghệ và tăng trưởng kinh tế.
  1. Về xã hội:
  • Giảm chi phí đi lại cho các hộ thu nhập thấp;
  • Nhờ dễ tiếp cận với dịch vụ công cộng và việc làm nên cư dân có chất lượng cuộc sống tốt hơn.

Đô thị nén bền vững còn được gọi là đô thị nén sinh thái (Eco-Compact City).

Đo lường mức độ nén của đô thị

Tính toán mật độ dân số không khó nhưng đo lường mức độ nén của đô thị lại khá phức tạp, vì ngoài mật độ còn phải xét đến nhiều tiêu chí về kinh tế, giao thông, sử dụng đất hỗn hợp… Các chuyên gia đã đề xuất nhiều phương pháp đo lường, kiến nghị nhiều chỉ tiêu có liên quan, có thể quy tụ thành 6 nhóm chỉ tiêu[i] về:

  1. Hình dạng đô thị: đánh giá hình dạng là sát với hình tròn hay phân mảnh, kéo dài...;
  2. Quy mô đô thị: phản ánh diện tích sử dụng đất, dân số, GDP… để chứng tỏ đẳng cấp đô thị;
  3. Mật độ đô thị: gồm các loại mật độ về dân số, tiền vốn, xây dựng, giao thông…;
  4. Cấu trúc  đô thị: thể hiện đặc trưng phân bố của các yếu tố nhân khẩu, sản nghiệp, và sử dụng đất trong không gian đô thị;
  5. Công năng đô thị: nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các hoạt động trong đô thị thông qua cự ly đi lại bình quân;
  6. Quá trình phát triển đô thị: thể hiện các tốc độ tăng trưởng dân số, mật độ, tiền vốn, sử dụng đất…

Để đơn giản hơn, có chuyên gia đề xuất đánh giá tính nén chỉ bằng 3 nhóm chỉ tiêu về i) mật độ; ii) phúc lợi và việc làm; và iii) giao thông và khả năng tiếp cận[ii]. Hoạt động nghiên cứu xây dựng chỉ tiêu đánh giá đô thị nén vẫn đang tiếp tục.

Quy hoạch không gian đô thị nén

Tổ chức OECD năm 2012 đưa ra mô hình đô thị nén Âu-Mỹ (Bảng 2) để áp dụng cho công tác quy hoạch đô thị tại các nước phát triển Châu Âu. Mô hình này trở thành mô hình chủ đạo để ngăn chặn tình trạng đô thị lan tỏa, và được UN-Habitat và Ngân hàng Thế giới công nhận là có tính bền vững để ứng phó với đô thị hóa nhanh toàn cầu, biến đổi khí hậu và khí thải nhà kính. Mô hình Âu-Mỹ cũng được cải biến để áp dụng cho các nước đang phát triển[iii] (Bảng 3).

Bảng 2. Các đặc trưng mô hình đô thị nén Âu-Mỹ

Phương thức phát triển dày đặc và tập trung

Các khu vực đô thị liên kết bằng giao thông công cộng

Khả năng tiếp cận dịch vụ và việc làm

Chính quyền đô thị có năng lực và phối hợp ở cấp đô thị và cấp vùng

- Đất đô thị được thâm dụng

- Các khu dân cư nối liền hay kề sát nhau

- Phát triển tập trung có địa giới rõ ràng

- Sử dụng đất hiệu quả, nhất là theo định hướng GTCC

- Hệ thống GTCC tạo thuận lợi cho lưu động trong  đô thị

- Sử dụng đất và loại hình công trình đều có tính hỗn hợp

- Cư dân dễ tiếp cận dịch vụ công cộng, GTCC và đi bộ, xe đạp

- Nhà nước giám sát chặt chẽ quy hoạch và phát triển đất

- Chính quyền đủ năng lực về tài chính và thể chế để đầu tư hạ tầng đô thị

- Các chính quyền đô thị trong vùng đô thị cùng phối hợp quy hoạch sử dụng đất

Bảng 3. So sánh mô hình đô thị nén Â-Mỹ và bối cảnh phương Nam

 

Mô hình đô thị nén Âu-Mỹ

Bối cảnh phương Nam

 (các nước đang phát triển)

Bối cảnh thể chế

 

- Hệ thống QH đủ năng lực và được phối hợp

- Chế độ cưỡng chế có hiệu lực

- Hệ thống QH yếu kém và thiếu phối hợp

- Chế độ cưỡng chế kém hiệu lực

Bối cảnh dân số

- Tăng trưởng dân số chậm

- Mật độ thấp

- Tăng trưởng dân số nhanh

- Mật độ tương đối cao

Phương thức đô thị hóa

- Hệ thống chính quy

- Hệ thống không chính quy/chính quy chồng chéo nhau

Mục tiêu quy hoạch

 

- Đô thị được giới hạn

- Nâng cao mật độ đô thị

- Mở lối tiếp cận đất đai an toàn

- Duy trì mật độ cao

Nghị trình môi trường và phát triển

- Nghị trình xanh (ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường…)

- Các Nghị trình “xanh” và “nâu” mở (tăng tiếp cận đất đai bên ngoài các khu vực nhạy cảm và nhiều rủi ro)

Cơ sở kiến thức

- Chuyên gia QH chính quy

- Vận dụng cả kiến thức chính quy và không chính quy

Kiểu trị lý

- Công chính

- Trị lý đô thị phân mảnh

UN-Habitat đưa ra 5 nguyên tắc quy hoạch khu phố bền vững[iv] sau đây:

  1. Không gian thích hợp cho các đường phố và mạng đường phố hiệu quả;
  2. Mật độ cao, tối thiểu 15.000 người/km2;
  3. Sử dụng đất hỗn hợp, tối thiểu 40% diện tích sàn trong mỗi khu phố được dành cho các hoạt động kinh tế;
  4. Các tầng lớp thu nhập khác nhau sống gần nhau, 20-50% diện tích sàn trong khu nhà ở dành cho nhà giá thấp;
  5. Hạn chế đất chuyên dùng, các tòa nhà đơn chức năng không chiếm quá 10% số tòa nhà trong mỗi khu phố.

Năm 2017,UN-Habitat tổ chức cuộc “Hội ngộ nhóm chuyên gia” về chủ đề quy hoạch đô thị nén.

Trước mắt, trong quy hoạch đô thị có thể thận trọng tham khảo một số tiêu chuẩn đô thị bền vững[v] được nhiều người thừa nhận như: i) Mật độ bình quân: 15.000 người/km2 (UN-Habitat 2014); ii) Tỷ lệ đất ở: 50%; iii) Tỷ lệ đất xây dựng: 75%; iv) Tiếp cận GTCC trong cự ly 0,4-0,5 km. Ngoài ra, các nguyên tắc quy hoạch khu phố của thành phố Stockholm sau đây cũng rất có giá trị tham khảo:

  • Đưa chỗ làm việc vào nhà ở;
  • Khoảng cách tối thiểu từ nhà ở đến cửa hàng;
  • Tập trung các chức năng dịch vụ vào khu vực dễ tiếp cận, và dễ chuyển đổi để có thể đáp ứng nhu cầu dịch vụ mới sẽ nảy sinh;
  • Nhà ở đa dạng: nhà hai tầng riêng lẻ, bốn đến sáu tầng quanh một sân, và mười đến mười ba tầng quanh trạm giao thông;
  • Môi trường đô thị đa dạng và có màu sắc;
  • Nhà chung cư cách trạm giao thông không quá 500 m;
  • Nhà cho một gia đình cách trạm giao thông không quá 300 m;
  • Tại mỗi cộng đồng đều có trạm liên kết xe buýt với tàu điện;
  • Các trung tâm được liên kết với nhau bằng mạng lưới chặt chẽ, có lối đi tách riêng cho người đi xe đạp, người già và người tàn tật.

Đô thị nén ở Việt Nam

Theo Nghị định số 42/2009, quy mô và mật độ dân số là những tiêu chí cơ bản để phân loại đô thị (Bảng 4).

Bảng 4. Quy mô và mật độ dân số theo loại đô thị

Loại đô thị

V

IV

III

II

I

Đặc biệt

Quy mô dân số (min)

4.000

50.000

150.000

300.000

1.000.000

5.000.000

Mật độ (min)

(người/km2)

2.000

4.000

6.000

a:  8.000

b: 10.000

a: 10.000

b: 12.000

15.000

Chú thích: Mật độ a cho đô thị thuộc tỉnh; mật độ b cho đô thị thuộc Trung ương

Dân số đô thị Việt Nam khoảng 33 triệu người, diện tích đất toàn đô thị là 43.792 km2, mật độ dân số đô thị trung bình của cả nước là 1.888 người/km2. Mật độ cao nhất cấp quận là 44.135 ng/km2 thuộc về Quận 11 TP HCM.

Trong Bảng 5 là số lượng các Quận nén có mật độ từ 15.000 ng/km2 trở lên của 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Số liệu cho thấy hai thành phố Hà Nội và TP HCM có mức độ nén cao nhất.

Bảng 5. Số Quận nén (mật độ≥15 000ng/km2) của 5 thành phố trực thuộc TƯ

 

Hà Nội

Hải Phòng

Đà Nẵng

TP HCM

Cần Thơ

Số Quận nén/ tổng số Quận

6/12

2/8

1/6

13/19

0/5

Quận nén nhất

Quận Đống Đa

Quận Lê Chân

Quận Thanh Khê

Quận 11

-

Mật độ Quận nén nhất

(ng/km2)

36 463

16 014

18 810

44 135

-

Nguồn: Tập bản đồ các đô thị Việt Nam. NXB Tài nguyên-môi trường và bản đồ Việt Nam, 2012

Đô thị hóa ở Việt Nam có các đặc điểm như sau:

  1. Dân số đô thị tăng nhanh, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong khoảng 3-4%;
  2. Số lượng đô thị tăng nhanh. Trong Bảng 6 là số lượng đô thị các năm 2000 và 2016.

            Bảng 6. So sánh số lượng đô thị các năm 2000 và 2016

 

Thành phố

Thị xã

Thị trấn

Số lượng ĐT

Dân số ĐT

Năm 2000

25

62

563

650

18,6 triệu ng

Năm 2016

72

51

603

726

32 triệu ng

Nguồn: Niên giám thống kê. Số liệu năm 2016 khác với số liệu của Cục Hạ tầng kỹ thuật BXD

     3) Đô thị hóa đất đai đi trước đô thị hóa dân số: diện tích đất đô thị tăng nhanh hơn dân số đô thị khiến mật độ đô thị (thô) bình quân cả nước giảm đi.

     4) Đô thị hóa (lan tỏa đô thị) mạnh mẽ dọc các tuyến đường bộ trên cả nước.

Hai thành phố Hà Nội và TP HCM phát triển mạnh hơn các thành phố khác.

Ngoài ra, do không đủ nguồn vốn đầu tư nên hệ thống hạ tầng đô thị không phát triển kịp với tốc độ đô thị hóa, nhưng đó lại là đặc điểm chung của các nước đang phát triển chứ không riêng gì Việt Nam.

Việc phân loại đô thị vốn là để tiện cho quản lý đô thị, nhưng lại dẫn đến xu hướng chạy đua nâng loại đô thị, khiến đô thị được mở rộng để tăng thêm dân số từ các xã, huyện xung quanh. Cũng từ đó hình thành sự phân biệt dân số nông nghiệp và phi nông nghiệp trong nội đô.

Sự lan tỏa đô thị (urban sprawl) là một vấn nạn mà các nước đều đang phải ngăn chặn bằng giải pháp đô thị nén. Lan tỏa đô thị tại các nước phát triển xuất phát việc sử dụng xe hơi, thế nhưng tại các nước đang phát triển như Việt Nam hiện tượng này gắn với việc sử dụng đất mặt tiền ven đường có giá rẻ hơn trong nội đô để làm nơi kiếm sống. Khi tìm hiểu hình thái đô thị nén ở Việt Nam cần quan tâm đến đặc điểm này.

Đô thị nén phải trở thành mục tiêu phát triển đô thị chính thức ở Việt Nam, và cần được tiếp cận từ hai hướng: khi điều chỉnh mật độ dân số tại các khu vực đô thị hiện hữu và khi phát triển các khu đô thị mới.

Mật độ các khu phố rất chênh lệch nhau, vì vậy cần được điều chỉnh lại cho cân bằng hơn và đạt mức độ nén,tối thiểu là 150 người/ha. Giải pháp là tạo ra mạng các trung tâm đô thị có cấp bậc khác nhau và liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông công cộng.

Các khu đô thị mới nhất thiết phải sử dụng đất đa chức năng, được quy hoạch thành mạng đường phố với các tòa nhà từ nhiều tầng đến cao tầng với các tầng dưới dùng vào mục đích kinh doanh và dịch vụ. Mật độ các khu đô thị mới cũng phải đạt mức tối thiểu 15.000 người/km2

Kết luận

Đô thị nén là chủ đề lớn, cần được xem xét từ nhiều khía cạnh. Mong chủ đề này được các nhà làm chính sách nước ta quan tâm để hình thái đô thị nén sớm trở thành định hướng phát triển chính thức của đô thị nước ta, một nước khan hiếm tài nguyên đất đai đang phải đứng trước các thách thức về tăng dân số và biến đổi khí hậu./.

[i] YAN Yue et al. 2013.Urban Compactness Index and its application: Compactness of built-upareas in Nanjing and Suzhou. Progress in Geography. Vol. 32, No 5. (in Chinese)

[ii] Muhammad Sani Royschansyah. 2005. Transformation of sustainability into compact city implementation:measurement of compactness attributes in Japanese cities. The 2005 World Sustainable Building Conference. Tokyo.

[iii]Donald Brown. 2017. Challenging the conceptualboundaries of the compact city paradigm in Sub-Saharan Africa: Towards Southern alternatives . DPU Working Paper No 187.

[iv]UN-Habitat. 2014. A new strategy of sustainable neighbourhood planning: five principles. Discussion note 3.

[v]Hussain Liaqat et al.2017. Measuring Urban Sustainability through Compact City Approach: A Case of Lahore.Journal of Sustainable Development Studies. Vol 10,No 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nguồn:TS. Phạm Sỹ Liêm - Tạp chí quy hoạch số 94)
Tin cũ hơn

Tạp chí online

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website