Tìm hiểu những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lịch sử cách mạng của dân tộc ta 96 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng và khẳng định, chính tư duy lý luận, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng đã làm nên những thành tựu vẻ vang, giúp đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay.

Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng rất quan tâm đến công tác lý luận (bao gồm cả nghiên cứu lý luận, giáo dục lý luận, truyền bá lý luận, đào tạo cán bộ lý luận). Qua nhiều giai đoạn của cách mạng, nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước được bổ sung, hoàn thiện, nhất là từ Đổi mới đến nay. Như đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những câu hỏi Đảng ta tập trung trả lời từ thực tiễn của Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam đánh giá: hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện [1].

Trong giai đoạn ban đầu khi mới ra đời đến năm 1975, sứ mệnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là tập trung vào nhiệm vụ chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc và tạo những nền tảng kinh tế, xã hội bước đầu, đưa non sông thu về một mối. Thành tựu lý luận nổi bật của Đảng là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn, xác định đúng đắn con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lấy nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập làm trên hết. Đảng phát triển tư duy về chiến tranh nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và bước đầu tìm tòi mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước chia cắt và hậu chiến, dù còn mang nặng tư duy tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong giai đoạn này, bên cạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Đảng ta khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là sợi chỉ đỏ tư tưởng, là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Đáng lưu ý là, trong giai đoạn từ 1976-1986, Đảng ta đã bước đầu phát triển nhận thức về các quy luật, các mối quan hệ lớn tồn tại khách quan trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Trong giai đoạn Đổi mới từ năm 1986, đứng trước yêu cầu cấp bách cần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, khắc phục mô hình tập trung quan liêu, bao cấp, và phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI đến nay. Đây là quá trình liên tục tìm tòi, trải nghiệm, thử nghiệm, sáng tạo, kiên định và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính trong giai đoạn này, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện, phát triển. Thực tiễn đổi mới là trường học cuộc sống vĩ đại cho sự trưởng thành trí tuệ của Đảng và của nhân dân ta. Qua từng chặng đường thực tiễn để nghiên cứu, tổng kết, kiểm chứng, bổ sung lý luận. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay [2]. Những thành tựu đó đã khẳng định đường lối của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử, tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

Đại hội VI đề ra quyết sách Đổi mới, xác định đường lối, quan điểm, nguyên tắc và phương châm đổi mới, đặt nền móng bước đầu nhưng rất quan trọng cho lý luận Đổi mới Việt Nam, lý luận đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội VII (1991) thông qua quyết định lịch sử về “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, hình thành những nhận thức cơ bản về đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, về phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, đó là con đường và mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội VIII (1996) kết thúc thế kỷ XX, đổi mới tròn một thập kỷ và đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tích cực tạo tiền đề để tiếp tục đổi mới, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đại hội IX (2001) mở đầu thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, đã xác định giá trị “dân chủ” trong hệ mục tiêu của đổi mới. Đó cũng là giá trị trong hệ giá trị đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nước ta được Đảng ta khẳng định như hiện nay.

Đại hội X (2006), Đảng ta tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới với những kết quả và bài học quan trọng, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XI (2011), trong bối cảnh 1.000 năm Thăng Long, Việt Nam đẩy mạnh đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, Đảng ta thông qua Cương lĩnh (bổ sung, phát triển, năm 2011) đã trang trọng đưa vào Cương lĩnh nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn cờ tư tưởng của Đảng, ngọn cờ dẫn đường của cách mạng Việt Nam. Nêu lên 8 mối quan hệ lớn của đổi mới.

Đại hội XII (2016), Đảng ta tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, phát triển các đặc trưng xã hội chủ nghĩa, các phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là lần đầu tiên xác định xây dựng Đảng về đạo đức, bổ sung lý luận về kinh tế thị trường và mối quan hệ giữa thị trường -Nhà nước và xã hội.

Đại hội XIII (2021), đặc biệt nhấn mạnh nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bổ sung quan hệ thứ 10 về thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội. Như vậy, đến Đại hội XIII, Đảng đã xác định rõ 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội, 10 mối quan hệ lớn phản ánh quy luật của đổi mới và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những nội dung này cùng với 3 trụ cột nền tảng (được chính thức xác định trong Văn kiện Đại hội XIV) tạo thành hệ thống lý luận cơ bản về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, góp phần trả lời hai câu hỏi lý luận lớn mà thực tiễn đổi mới đặt ra: chủ nghĩa xã hội là gì và xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào cho phù hợp với các quy luật khách quan, xu thế phát triển của thế giới đương đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cụ thể:

Tám đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Tám phương hướng: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Mười mối quan hệ lớn: (i) Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; (ii) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (iii) Quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; (iv) Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; (v) Quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; (vi) Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; (vii) Quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (viii) Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (ix) Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; (x) Quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Ba trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Vừa qua, Đảng ta đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tháng 1/2026). Đại hội có ý nghĩa lịch sử, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt (bối cảnh quốc tế biến động nhanh, phức tạp, tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của đất nước. Ở trong nước, thành tựu phát triển đất nước qua 40 năm đổi mới và hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đảng ta đã và đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, nổi bật là cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia...); là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, đã lựa chọn con đường phát triển dài hạn, đúng đắn với mục tiêu rõ ràng cho đất nước. Đồng thời đánh dấu những bước phát triển mới của Đảng về tư duy lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cụ thể:

Thứ nhất, đã bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục dẫn dắt đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Đây là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, vừa khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, vừa thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng; xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Thứ hai, đã xác định và lựa chọn mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; bảo vệ môi trường cũng trở thành một trụ cột để xác lập mô hình tăng trưởng mới [3]. Mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên đã bộc lộ giới hạn. Vừa qua, Bộ Chính trị dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã ban hành bốn Nghị quyết chiến lược (hay còn gọi là “Bộ tứ trụ cột”) [4] và một số nghị quyết chiến lược khác, nhằm tạo nền tảng giúp đất nước cất cánh, tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, hiện thực hóa mục tiêu và khát vọng phát triển Việt Nam đến năm 2030 và năm 2045. Cụ thể: đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, đã xác định rõ hơn vai trò các thành phần kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhất là, xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng. Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp tư nhân đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt trước biến động thị trường, trở thành nơi thu hút chủ yếu lao động xã hội, nguồn cung cấp đa dạng hàng hoá, dịch vụ và giải pháp công nghệ.

Các khu vực kinh tế đều được phát huy đầy đủ chức năng, vai trò trong nền kinh tế; mục tiêu nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế. Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.

Thứ tư, bổ sung quan điểm “giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội”, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn cấp bách trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự phối hợp hiệu quả giữa ba chủ thể Nhà nước, thị trường và xã hội sẽ nâng cao tính minh bạch, khách quan và khả năng kiểm soát rủi ro, góp phần tối ưu hoá kết quả phân bố nguồn lực chung của nền kinh tế. Khẳng định vai trò quyết định của thị trường đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể kinh tế, đồng thời giảm thiểu sự can thiệp hành chính trực tiếp vào cơ chế vận hành tự nhiên của giá cả, của thị trường, của lợi ích và rủi ro. Thị trường có chức năng xác định giá cả, huy động và phân bổ các nguồn lực theo tín hiệu cung - cầu tự nhiên. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều tiết hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển phù hợp với nguyên tắc và thực tiễn thị trường. Xã hội giữ vai trò giám sát, phản biện và hiến kế thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội ngành nghề, đội ngũ trí thức và truyền thông.

Thứ năm, nhấn mạnh yêu cầu “đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế” và nâng cấp vai trò, vị thế của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế lên một tầm cao mới. Đối ngoại, hội nhập quốc tế không chỉ là động lực phát triển quan trọng mà còn là phương thức hàng đầu để thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước. Quan điểm chỉ đạo mới đối với công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng tại Đại hội XIV phản ánh sự ghi nhận và tin tưởng ngày càng cao của Đảng với những đóng góp, vai trò ngày càng quan trọng của đối ngoại, hội nhập quốc tế trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tranh thủ các nguồn lực, điều kiện bên ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến nay. Việc xác lập đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên cho phép nâng cao vai trò của Bộ Ngoại giao và những cơ quan làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế khác ở Trung ương và địa phương. Cơ chế "ba trụ cột" Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại sẽ thúc đẩy hợp tác liên ngành, tăng cường cán bộ chuyên trách, xây dựng đội ngũ chuyên gia ngoại giao kinh tế, văn hoá, công nghệ, kỹ thuật... nhằm chủ động khai thác cơ hội, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức. Quan điểm chỉ đạo này là cơ sở để tạo lập các phương thức ngoại giao, như: "ngoại giao kinh tế", "ngoại giao văn hoá", "đối ngoại quốc phòng, an ninh", "ngoại giao công nghệ"... để thu hút vốn, công nghệ, nguồn lực quốc tế và gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Như vậy, từ thực tiễn phong phú lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay, nhất là qua 40 năm đổi mới, nhận thức tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một quá trình sáng tạo, bền bỉ để từng bước hình thành và phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; đồng thời, góp phần bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bối cảnh mới và yêu cầu phát triển đất nước trong kỳ nguyên phát triển mới sẽ đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

----------------------------

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.2, tr.210.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, sđd, H. 2026, 1.2, trang 105.

[3] Quan điểm chỉ đạo thứ hai của Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV viết: Nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đấy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

[4] "Bộ tứ trụ cột" gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về "Hội nhập quốc tế trong tình hình mới", Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Ngoài ra, Đảng ta cũng đã bạn hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam....

(Nguồn:nhandan.vn)
Tin cũ hơn
  • Tin VIUP
  • Đồ án quy hoạch tiêu biểu
  • Giải thưởng
  • Nghiên cứu khoa học
  • Quy hoạch và quản lý kiến trúc cảnh quan nông thôn

Tạp chí QHXD

Ebook

Giới thiệu sách

Liên kết website